Trang Chủ Lớp 12 Đề thi học kì 2 lớp 12 Đề học kì II Ngữ Văn 12: Nghị luận về hạnh phúc...

Đề học kì II Ngữ Văn 12: Nghị luận về hạnh phúc gia đình

CHIA SẺ

I. ĐỌC HIỂU.  Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

“Cuộc sống tuy buộc vào cuộc đời mỗi con người không ít bất hạnh nhưng rồi chính nó cũng mang đến cho chúng ta thật nhiều hạnh phúc. Có những hạnh phúc vụt đến rồi vụt đi như một ánh chớp bất thần giữa đêm tối. Nhưng cũng có những hạnh phúc đã trở thành một trong những mục tiêu lớn nhất của một đời người, những hạnh phúc mà ai cũng đều khao khát. Những hạnh phúc ấy, chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay và tất nhiên không phải người nào cũng được tận hưởng. Hạnh phúc gia đình có lẽ là niềm hạnh phúc lớn lao nhất, đẹp đẽ nhất trong số những hạnh phúc được đếm trên đầu ngón tay mà mỗi con người luôn tìm kiếm, luôn hướng đến.”

(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Văn NLXH, Cao Lê Mỹ Diệu)

1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

2. Anh/Chị hiểu thế nào về ý nghĩ: “Có những hạnh phúc vụt đến rồi vụt đi như một ánh chớp bất thần giữa đêm tối.”?

3. Vì sao tác giả cho rằng: “Cuộc sống tuy buộc vào cuộc đời mỗi con người không ít bất hạnh nhưng rồi chính nó cũng mang đến cho chúng ta thật nhiều hạnh phúc.”?

4. Thông điệp nào của đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?

 II. LÀM VĂN 1. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Hạnh phúc gia đình có lẽ là niềm hạnh phúc lớn lao nhất, đẹp đẽ nhất trong số những hạnh phúc được đếm trên đầu ngón tay mà mỗi con người luôn tìm kiếm, luôn hướng đến”.

2. Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua đoạn thơ sau trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh:

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ.

(Trích sách Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, trang 155-156)


Lời giải Tham khảo dưới đây:

1. Phương thức nghị luận.

 2. Hạnh phúc ở đời lắm khi thoáng qua rất nhanh.

3. Vì thông qua trải nghiệm của chính cuộc đời mình, có lẽ tác giả đã nhận ra sự có hậu của cuộc sống – cũng là sự đáng sống của cuộc đời: tuy có những lúc đem lại bất hạnh nhưng cuộc sống vẫn thường mang đến cho chúng ta thật nhiều hạnh phúc (mà hạnh phúc lớn lao nhất chính là hạnh phúc gia đình).

4. Thông điệp (một trong các thông điệp chính sau): Cuộc sống luôn tiềm ẩn những hạnh phúc hoặc Hạnh phúc gia đình là hạnh phúc lớn lao nhất, đẹp đẽ nhất.

II. Làm văn

1.  Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức (tri thức sách vở và trải nghiệm cuộc sống) và kĩ năng về tạo lập đoạn văn để làm bài. Đoạn văn phải đúng hướng, rõ ràng, chặt chẽ, bảo đảm tính liên kết, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

Yêu cầu cụ thể:a) Đảm bảo cấu trúc 01 đoạn nghị luận

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Hạnh phúc gia đình là hạnh phúc lớn lao nhất, đẹp đẽ nhất.

c) Khai triển vấn đề cần nghị luận

Định hướng tổng quát:

– Cuộc đời mỗi người luôn mỏi mong và hướng đến hạnh phúc.

– Có nhiều loại hạnh phúc gắn với những mục tiêu khác nhau của đời sống.

– Hạnh phúc gia đình là hạnh phúc lớn lao nhất, đẹp đẽ nhất.

2. Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng để tổ chức bài văn nghị luận văn học (phân tích một đoạn thơ) để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Yêu cầu cụ thể:

– Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

-Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu (qua hai đoạn thơ cuối).

 

c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng

* Giới thiệu về tác giả, tác phẩm 

1.Tác giả

– Cuộc đời bất hạnh: Luôn khao khát tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.

– Đặc điểm hồn thơ: Tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, khao khát hạnh phúc đời thường, bình dị; nhiều lo âu, day dứt, trăn trở trong tình yêu.

2.Tác phẩm

-Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết tại biển Diêm Điền ( Thái Bình) năm 1967.

-Đề tài : Tình yêu.

* Phân tích (2,0 điểm)

Cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu (qua hai đoạn thơ cuối).

– Vẻ đẹp của một tâm hồn tinh tế, giàu cảm xúc và lắm suy tư trước sự hữu hạn của đời người, sự mong manh của hạnh phúc (niềm lo lâu trước sự hữu hạn của đời người được thể hiện dưới dạng liên tưởng mang tính chất so sánh, ẩn dụ).

– Vẻ đẹp của một tâm hồn giàu khát vọng muốn sống hết mình trong tình yêu, muốn vươn đến một tình yêu vĩnh cửu (nỗi khát khao được giãi bày vừa trực tiếp (làm sao được, thành, để) vừa gián tiếp theo kiểu ẩn dụ kín đáo).

* Đánh giá Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu được khắc họa một cách bóng bẩy và tinh tế bởi một hồn thơ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

CHIA SẺ