Trang Chủ Lớp 12 Đề thi học kì 1 lớp 12 Đề và đáp án đề thi kì 1 môn Văn lớp 12...

Đề và đáp án đề thi kì 1 môn Văn lớp 12 Cần Thơ năm 2015

CHIA SẺ

Gửi các em Đề và đáp án đề thi kì 1 môn Văn lớp 12 Cần Thơ năm học 2015 – 2016. 

Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 3:

CÂY DỪA

Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu,

Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng.

Thân dừa bạc phếch tháng năm,

Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao.

Đêm hè hoa nở cùng sao,

Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh.

Ai mang nước ngọt, nước lành,

Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa.

Tiếng dừa làm dịu nắng trưa,

Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo.

Trời trong đầy tiếng rì rào,

Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra.

Đứng canh trời đất bao la,

Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.

(Góc sân và khoảng trời – Trần Đăng Khoa)

1 (0,5 điểm): Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.

2 (1,5 điểm): Trong bài thơ, cây dừa được tả bằng những hình ảnh nên thơ và ngộ nghĩnh, đó là những hình ảnh nào? Tác giả đã dùng những biện pháp tu từ nào để tả cây dừa và tác dụng của biện pháp tu từ ấy?

3 (1,0 điểm): Anh/chị có suy nghĩ gì về hai câu thơ cuối? (Trình bày khoảng 5 đến7 dòng)

“Đứng canh trời đất bao la,

Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.”

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

1 (3,0 điểm)

Có ý kiến cho rằng: Không có điều vĩ đại nào trên đời đạt được mà thiếu đi sự tâm huyết.

Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề trên.

2 (4,0 điểm)

Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng SôngĐà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này qua bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.

Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.

Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số nhấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào. Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống. Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới […].

… Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cũng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược,hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này. Mặt sông rung rít lên như tuyếc-bin thủy điện nơi đáy hầm đập.

(Trích Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân,Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2014, tr. 186-188)

Cảm nhận của anh/chị về con Sông Đà hung bạo ở miền Tây Bắc của Tổ quốc trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận về cách nhìn, cách miêu tả thiên nhiên của nhà văn Nguyễn Tuân qua việc “tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên” Tây Bắc.


HƯỚNG DẪN CHẤM – ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I

NĂM HỌC: 2015-2016

MÔN: NGỮ VĂN LỚP 12 – GDTHPT

(Hướng dẫn chấm – Đáp án – Thang điểm có 04 trang)

I. PHẦN ĐỌC HIỂU

 Đọc bài thơ Cây dừa của Trần Đăng Khoa và thực hiện các yêu cầu (3 đ)

Yêu cầu chung:

–    Câu này kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh, đòi hỏi học sinh phải huy động kiến thức và kĩ năng đọc hiểu một văn bản văn học thuộc thể thơ trữ tình để làm bài.

Đề không yêu cầu đọc hiểu mọi phương diện của bài thơ, chỉ kiểm tra một số khía cạnh. Cảm nhận của học sinh có thể phong phú nhưng cần nắm bắt được phương thức biểu đạt chính của bài thơ, thấy được hình ảnh đẹp và tác dụng của các biện pháp tu từ được dùng trong bài thơ.

Yêu cầu cụ thể

1/ Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ: biểu cảm. (0,5đ)

2/ Cây dừa được tả bằng những hình ảnh đẹp: (0,5đ)

– Hình ảnh nên thơ:

+ Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng;

+ Đêm hè hoa nở cùng sao;

+ Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh.

– Hình ảnh ngộ nghĩnh:

+ Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao;

+ Ai mang nước ngọt, nước lành;

+ Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa.

* Tác giả đã dùng những biện pháp tu từ nào để tả cây dừa và tác dụng? (1,0 đ)

– Biện pháp so sánh: quả dừa – đàn lợn con; tàu dừa – chiếc lược.

– Biện pháp nhân hóa: Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng; Đứng canh trời đất bao la,/ Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.

– Tác dụng: Dùng các phép tu từ so sánh và nhân hóa để tả cây dừa nhằm làm cho cây dừa vừa cụ thể, vừa sinh động, lại mang hồn người,…

3/ Anh/chị nêu suy nghĩ về hai câu thơ cuối (trình bày khoảng 5 đến 7 dòng): (1,0 đ)

Đứng canh trời đất bao la,

Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.

Cảm nghĩ của người làm bài.

Ở đây nêu một số gợi ý: Chú ý sự đối lập giữa “đứng canh” “đứng chơi”, cùng với cái hay của từ “đủng đỉnh” để thấy được tư thế và thần thái của cây dừa hiện lên rất đẹp trong bức tranh làng quê Việt Nam. Phải chăng đó cũng là những vẻ đẹp và phẩm chất của con người Việt Nam?; hay hình ảnh những người lính ngày đêm canh gác để bảo vệ quê hương, đất nước;…

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

1: Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề: Không có điều vĩ đại nào trên đời đạt được mà thiếu đi sự tâm huyết (3 đ)

Yêu cầu chung:

– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của học sinh, đòi hỏi học sinh phải huy động những kiến thức về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ suy nghĩ của mình để làm bài.

– Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; được tự do bày tỏ suy nghĩ của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.

Yêu cầu cụ thể:

1/ Giới thiệu vấn đề cần nghị luận. (0,5 đ)

2/ Giải thích (0,5 đ)

“Điều vĩ đại”: điều to lớn, có ý nghĩa lớn lao với con người; có thể là sự nghiệp, tình cảm, thành tựu,…

“Tâm huyết”: tập trung tuyệt đối về sức lực, tài sản, khả năng, đặc biệt là niềm đam mê cho một điều gì đó.

– Ý nghĩa: Khẳng định vai trò của tâm huyết đối với những thành tựu có ý nghĩa lớn lao trong cuộc sống.

3/ Bàn luận (1,5 đ)

– Tâm huyết là động lực, niềm đam mê, ý chí vượt qua khó khăn; nó đem đến tình yêu, trách nhiệm, sự hy sinh vô bờ bến cho điều mà người ta theo đuổi, để đạt được kết quả tốt đẹp (dẫn chứng và phân tích dẫn chứng).

– Những người đạt được sự vĩ đại đều là những người có tâm huyết.

– Thiếu tâm huyết, người ta dễ nản lòng, vô trách nhiệm, hời hợt, hoài phí thời gian mà chẳng đem lại điều gì tốt đẹp, lớn lao.

– Mở rộng: Những người có tâm huyết nhưng có cách nhìn nhận không đúng cũng dễ dẫn đến thất bại. Người có tâm huyết cũng cần có một quá trình rèn luyện.

– Phản đề: Bên cạnh ca ngợi những người say mê, tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm trong học tập, lao động, cần phê phán những người hời hợt, dễ nản lòng, thiếu kiên trì, vượt khó. Tuy nhiên, tâm huyết phải đặt đúng chỗ, nếu không sẽ trở thành vô dụng, có khi góp phần làm nên cái xấu, cái ác, tổn hại đến xã hội.

4/ Bài học nhận thức và hành động (0,5 đ)

– Nhận thức được tâm huyết xuất phát từ sự chân thành, hướng thiện, mục đích cao cả và thể hiện trong hành động thực tế mới góp phần làm nên những điều tốt đẹp.

– Mỗi cá nhân cần sống có trách nhiệm, yêu thích và đam mê với công việc, xây dựng tâm huyết từ những điều nhỏ bé đến những việc lớn lao; bồi đắp sự tâm huyết ở mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh,…

2: Cảm nhận về con Sông Đà hung bạo ở miền Tây Bắc của Tổ quốc trong đoạn trích. Từ đó, bình luận về cách nhìn, cách miêu tả thiên nhiên của nhà văn Nguyễn Tuân qua việc “tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên” Tây Bắc. (4,0đ)

Yêu cầu chung:

– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của học sinh, đòi hỏi học sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm thụ văn chương của mình để làm bài.

– Học sinh có thể phân tích và cảm nhận theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm.

Yêu cầu cụ thể:

1/ Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, tùy bút Người lái đò Sông Đà, hình ảnh con Sông Đà hung bạo ở miền Tây Bắc của Tổ quốc. Từ đó, thấy được cách nhìn, cách miêu tả thiên nhiên của nhà văn Nguyễn Tuân qua việc “tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên” Tây Bắc. 0,5đ

2/ Phân tích 2,5đ

Nội dung:

– Cảnh đá hai bên bờ sông:

+ Độ cao của cảnh đá hai bên bờ sông; sự lạnh lẽo, âm u của những khúc sông có đá dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời.

+ Sự nhỏ hẹp của dòng chảy vách đá chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Ở những chỗ này, lưu tốc của dòng chảy rất lớn, nhất là vào mùa nước lũ,…

– Ghềnh sông:

+ Nhân hóa con sông như một kẻ chuyên đi đòi nợ dữ dằn cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào

+ Mặt ghềnh sông như sôi lên, cuộn chảy dữ dội nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng sông này tạo nên mối đe dọa thật sự đối với bất cứ người lái đò nào đi qua chỗ đấy,…

– Hút nước:

+ Những cái hút nước Sông Đà giống như những cái giếng bê tông thả xuống sông chuẩn bị làm móng cầu.

+ Cường lực ghê gớm của những cái hút nước thể hiện qua các từ và cụm từ: thở, kêu, sặc, ặc ặc lên, rót dầu sôi vào,…

– Thác nước: Nhà văn đã nhân hóa con sông, biến nó thành một sinh thể dữ dằn, gào thét trong những âm thanh ghê sợ: lúc nghe như là oán trách, lúc lại như là van xin, khi thì khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, có lúc nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa,…

– Đá: Mỗi hòn đá là một tên lính thủy hung tợn, tên nào trông cũng ngỗ ngượcnhăn nhúm, sẵn sàng giao chiến,…

Nghệ thuật:

– Liên tưởng độc đáo, so sánh thú vị, nhân hóa con sông có những nét tính cách giống con người.

– Thủ pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc kết hợp với các thanh trắc liên tiếp đã tạo nên âm hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn trương, dồn dập nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió…

– Tả và kể một cách hiện thực và giàu hình ảnh, liên tưởng và tưởng tượng bất ngờ, sử dụng hàng loạt so sánh, nhà văn đã tô đậm mức độ khủng khiếp của những hút nước,…

3/ Đánh giá chung: 0,5đ

Dưới ngòi bút của người nghệ sĩ ngôn từ Nguyễn Tuân, sự hùng vĩ và hung bạo của Đà giang đã hiện ra ở nhiều dạng vẻ khác nhau. Tất cả đã toát ra một sự hoang dại, một thiên nhiên kì vĩ.

Lưu ý: Trong quá trình làm bài, học sinh cần phân tích các chi tiết để làm nổi bật sự hung bạo của con Sông Đà.

4/ Bình luận về cách nhìn, cách miêu tả thiên nhiên của nhà văn Nguyễn Tuân qua việc “tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên” Tây Bắc.  0,5đ

– Nguyễn Tuân đến Sông Đà với mục đích trước tiên là tìm chất vàng của thiên nhiên. Đằng sau những biểu hiện hung bạo của Đà giang, nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp hoang dại, hùng vĩ và tiềm năng thủy điện to lớn của Sông Đà. Khi nghĩ đến những tuyếc-bin thủy điện, có lẽ nhà văn đã dự cảm được vị trí, vai trò của Đà giang trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

– Dưới cái nhìn của Nguyễn Tuân, thiên nhiên không thuần túy là thiên nhiên, mà thiên nhiên cũng là một sản phẩm nghệ thuật vô giá của tạo hóa. Vì thiên nhiên chính là phông, nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp con người – người lái đò trên dòng sông hung bạo,…

Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi học sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.

 

CHIA SẺ