Trang Chủ Lớp 9 Khảo sát chất lượng lớp 9

Đề khảo sát chất lượng đầu năm Ngữ Văn lớp 9 trường THCS Lê Hồng Phong

CHIA SẺ

Đề khảo sát chất lượng đầu năm môn Văn lớp 9 trường THCS Lê Hồng Phong – Ma trận có đáp án và lời giải chi tiết. Các em xem phía dưới đề thi nhé.

ĐỀ BÀI:

1(3,0 điểm )

Kể tên những phương châm hội thoại đã học ? Giải thích nghĩa của  thành ngữ  trên và cho biết những  thành ngữ  đó liên quan đến phương châm hội thoại nào ?

– Hứa hươu hứa vượn

– Nói băm nói bổ

2: (2,0 điểm ) 

Hãy chỉ ra lỗi sai trong câu sau và sửa lại cho đúng:

“ Lão Hạc, Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố đã giúp chúng ta hiểu sâu sắc thân phận của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945”

3:  (5,0 điểm) Giới thiệu cây tre.

THIẾT LẬP MA TRẬN

Mức độ

 

Tên

chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng
Cấp độ thấp Cấp độ cao  
Tiếng Việt

Các Phương châm  hội thoại

  1

Giải thích nghĩa của  thành ngữ  trên và cho biết những  thành ngữ  đó liên quan đến phương châm hội thoại nào ?

 

 

 
Số câu

Số điểm 

Tỉ lệ %

  Số câu 1

Số điểm:3.0

Tỉ lệ:30%

    Số câu 1

Sốđiểm:3.0

Tỉ lệ:30%

Văn bản

 

  2

Hãy chỉ ra lỗi sai trong câu sau và sửa lại cho đúng:

     
Số câu

Số điểm 

Tỉ lệ %

  Số câu 1

Số điểm:2.0

Tỉ lệ:20%

    Số câu 1

Sốđiểm:120

Tỉ lệ:20%

Tập làm văn

văn thuyết minh

      3

Hãy chỉ ra lỗi sai trong câu sau và sửa lại cho đúng:

 
Số câu

Số điểm 

Tỉ lệ %

      Số câu 1

Sốđiểm:5.0

Tỉ lệ:50%

Số câu 1

Sốđiểm:5.0

Tỉ lệ:50%

Tổng số câu

Tổng số điểm

Tỉ lệ %

  Số câu 2

Số điểm:5.0

Tỉ lệ:50%

  Số câu 1

Sốđiểm:5.0

Tỉ lệ:50%

Số câu 3

Số điểm:10

Tỉ lệ:100%


ĐÁP ÁN  VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM HỌC MÔN VĂN LỚP 9

1: ( 3,0 điểm)

Đáp án:+ 5 Phương châm hội thoại

 Giải thích nghĩa của hai thành ngữ

– Hứa hươu hứa vượn: Hứa rất nhiều nhưng không làm( Phương châm về chất)

– Nói băm nói bổ: nối bốp chát thô bạo ( phương châm lịch sự)

2: (2 điểm)

– Lão Hạc là tên tác phẩm, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố là tên tác giả, không cùng phạm trù là sai. 1đ

– Cách sửa: Sửa Lão Hạc thành Nam Cao, hoặc thay Nguyễn Công Hoan bằng Bước đường cùng và Ngô Tất Tố bằng Tắt đèn. 1đ

3: ( 5,0 điểm)

1/ Tìm hiểu đề:

Thể loại : Thuyết minh + miêu tả + NT vào bài + sử dụng ca dao, thơ ca, viết.

Khuyến khích dùng phương pháp tự thuật, kể chuyện, đối thoại về cây tre

Nội dung + yêu cầu : giới thiệu cây tre

2/ Dàn bài:

a) MB:: Giới thiệu cây tre (phương pháp định nghĩa)

b) TB:: Lai lịch và đặc điểm cây tre, dòng họ cây tre: lồ ô, trúc, tầm, vong….

– Miêu tả cây tre: Là 1 cây khẳng khiu, màu xanh

+ Đốt dài và bóng nhẵn

+ Đường kính của thân tre trưởng thành từ 6 đến 8cm…

+ Cao không đến 10m

+ Tre có nhiều loại: tre gai, tre xanh, tre ngà, tre sừng (phân loại đặc điểm, đặc tính của từng loại tre)

+ Hình ảnh cây tre đã đi vào thơ ca

+ Công dụng cây tre:

Trong kháng chiến

Trong lao động sản xuất

Trong sinh hoạt hằng ngày

Là 1 thực phẩm chế biến đa dạng

Tóm lại: Cây tre luôn là người bạn đồng hành và nó đóng góp vào lợi ích của bản thân mình cho con người Việt Nam.

– Khẳng định lại cây tre

c) KB:: Vị trí của cây tre hiện tại → tương lai (là bóng mát là cổng chào, trường tồn mãi mãi)

3. Biểu điểm:

8→10; đủ các phần dàn bài, biết làm đúng thể loại thuyết minh. Đáp ứng đầy đủ các phần. Viết mạch lạc trình bày rõ ràng, bố cục chặt chẽ, không sai chính tả, ngữ pháp (sai 1 lỗi)

– Vận dụng linh hoạt các ý phần dàn bài và các yêu cầu ở điểm 8→10 để chấm điểm còn lại.

Tham khảo bài viết về cây tre:

Giới thiệu về cây tre

Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm. Thế nhưng những năm gần đây, có một thực tế đáng buồn là loại cây đa dạng, thiết thực trong mọi mặt đời sống này đã bị coi nhẹ, bị chặt phá, bị thoái hoá… bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

Về tính năng, không thể kể hết tính đắc dụng của tre đối với người dân Việt Nam: làm nhà cửa (vì kèo, lanh tô, phên liếp, vách tường…), làm vô số vật dụng: cái cần câu, cái vó cất tôm cất tép, cái đó, bè mảng, cái cầu ao và cả những cái cầu bắc qua những con mương, con kênh nhỏ; làm chông, làm tên bắn chống giặt ngoại xâm…

Tre từng được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng: bàn ghế, giường chõng, các loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh và đôi quang (thứ vật liệu đa dụng để gánh mọi thứ ra đồng và gánh lúa từ đồng về nhà, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh” thông thoáng để bảo quản thức ăn và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) đến cái khung cửi, cái xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước, cái bừa, cái cào, cái ách khoác lên cổ con trâu cày đến con dao cật nứa cắt rốn lúc chào đời, cái quạt nan, đôi đũa, cái tăm… nhiều thứ vật dụng làm bằng tre còn được dùng đến ngày nay.

Đấy là còn chưa nói tới các loại vật dụng của nhà nông, cũng như nhiều loại vũ khí thời xưa của cha ông ta đều có phần cán, phần tay cầm làm bằng một loại cây nào đó thuộc họ tre. Cây gậy tầm vông thời đánh Pháp xâm lược là một chứng tích đã đi vào lịch sử. Cây nêu dựng lên trước cửa nhà vào dịp năm mới thời xưa để trừ ma quỷ, cái ống đựng bút và quản bút lông của các nhà nho mà những năm gần đây về nơi thôn dã ta còn thấy, đến những cánh diều mà hôm nay con trẻ còn chơi… tất cả đều làm từ tre. Vật dụng ngày càng có vẻ thuận tiện hơn, có vẻ đẹp đẽ hơn đã đẩy chúng ta xa rời thứ cây nhiều lợi ích như thế. Thậm chí có một thời ấu trĩ, người ta đã chặt đi những bụi tre gai quanh làng với lý do là chúng làm đất bạc màu.Những rặng tre rợp bóng ở đường làng, nghiêng xuống nơi bờ ao không còn mấy nữa. Nhiều người quên mất rằng bao đời tổ tiên người Việt khai phá đồng bằng Bắc Bộ được như ngày hôm nay là do đắp đê chống lụt, trị thuỷ. Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của người Việt xưa bao đời bồi đắp, thì còn có phần công sức của những bụi tre có tác dụng giữ đất, chống xói lở.

Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các neỏ đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả- được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,…Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau,nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…”

“Tre xanh, xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”

Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m , ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.

Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.

Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phài ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng- hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Àn xâm lược đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ, đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh.

Mặt khác, hình tượng của cậu bé Thánh Gióng vươn vai hóa thân thành người khổng lồ rất có thể liên quan đến khả năng sinh trưởng rất nhanh của cây tre (theo các nhà Thực vật học, thì cây tre phát triển điều kiện lý tưởng, có thể cao thêm từ 15 -20cm mỗi ngày). Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, các lũy tre xanh đã trở thành “pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai, đồng hóa. Tre thật sự trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn côngtrong các cuộc chiến. Chính những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán. Chính ngọn tầm vông góp phần rất lớn trong việc đánh đuổi quân xâm lược để giàng Độc lập- Tự do cho Tổ Quốc. “ Tre giữ làng, giữ nước, giừ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín,…”

Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre : “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như : đàn tơ tưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.

Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng : đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.

Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng : “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước_tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên ường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.