Trang Chủ Sách bài tập lớp 10 SBT Sinh học 10

Bài 14, 15, 16, 17 trang 83, 84 SBT Sinh 10: Chức năng quan trọng của lên men là gì ?

CHIA SẺ

Chương V Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật SBT lớp 10. Giải bài 14, 15, 16, 17 trang 83, 84 Sách bài tập (SBT) Sinh học 10.  Câu 14: Vi khuẩn tía và vi khuẩn lục không lưu huỳnh thuộc kiểu dinh dưỡng nào ? …

Bài 14: Vi khuẩn tía và vi khuẩn lục không lưu huỳnh thuộc kiểu dinh dưỡng nào ? Chúng có giống với vi khuẩn tía lưu huỳnh và vi khuẩn lục lưu huỳnh không ?

   Các vi khuẩn tía và vi khuẩn lục không lưu huỳnh đều là vi khuẩn quang hợp, thay vì clorophin, chúng chứa bacterioclorophin (khuẩn diệp lục) có khả năng dùng ánh sáng mặt trời làm nguồn năng lượng Tuy nhiên, vi khuẩn tía và vi khuẩn lục không lưu huỳnh sử dụng chất hữu cơ làm nguồn cacbon nên chúng là quang dị dưỡng.

   Hai loại vi khuẩn tía lưu huỳnh và vi khuẩn lục lưu huỳnh sử dụng C02 làm nguồn cacbon nên chúng là quang tự dưỡng. Vì vậy, vi khuẩn tía và vi khuẩn lục không lưu huỳnh chúng không giống với vi khuẩn tía lưu huỳnh và vi khuẩn lục lưu huỳnh.

Bài 15: Hãy so sánh hô hấp hiếu khí với hô hấp kị khí. Tại sao hô hấp hiếu khí lại tạo ra nhiều năng lượng hơn hô hấp kị khí ?

   Hô hấp hiếu khí là hô hấp mà chất nhận electron cuối cùng là ôxi phân tử, còn hô hấp kị khí là hô hấp mà chất nhận electron cuối cùng là ôxi liên kết. Ví dụ, NO32- (hô hấp nitrat), SO42- (hô hấp sunfat).

  Hô hấp hiếu khí tạo ra 38 ATP (riêng chuỗi vận chuyển electron tạo ra 34 ATP). Hô hấp kị khí tạo lượng ATP ít hơn, vì hô hấp kị khí chỉ dùng một phần chu trình Crep, và không phải tất cả các chất mang trong chuỗi vận chuyển êlectron đều tham gia vào quá trình hô hấp kị khí.

Bài 16: Chức năng quan trọng của lên men là gì ?

Lên men là quá trình chuyển hoá kị khí sinh năng lượng mà trong đó các chất hữu cơ nội sinh (không phải lấy từ bên ngoài) vừa là chất cho vừa là chất nhận êlectron. Chức năng quan trọng của lên men là tái tạo NAD+ cho đường phân.

Bài 17: Tại sao lên men lại chỉ tạo ra 2 ATP ?

Lên men bắt nguồn từ đường phân. Ví dụ, nhờ con đường EM (Embden Meyerhof) tạo ra 2 piruvat, 2 ATP.

Piruvat và các dẫn xuất của nó bị khử thành các sản phẩm lên men, vì thế nên chỉ tạo ra 2 ATP.