Trang Chủ Bài tập SGK lớp 7 Soạn văn lớp 7

Soạn bài Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất – Bài 18 trang 3 Văn 7: Có thể chia tám câu tục ngữ ưong bài làm mấy nhóm ?

CHIA SẺ
Soạn bài Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất – Bài 18 trang 3 SGK Ngữ văn 7 tập 2. Trả lời các câu hỏi phần đọc hiểu văn bản và phần luyện tập trang 4, 5 SGK văn lớp 7. Câu 2: Có thể chia tám câu tục ngữ ưong bài làm mấy nhóm ? Nhóm 1: Tục ngữ về thiên nhiên (câu 1-4)…

I. Đọc – hiểu văn bản:

Câu 1: Đọc kĩ các câu tục ngữ và giải thích một số từ ngữ khó.

Câu 2: Có thể chia 8 câu tục ngữ thành 2 nhóm:

– Nhóm 1: Tục ngữ về thiên nhiên (câu 1-4).

– Nhóm 2: Tục ngữ về lao động sản xuất (câu 5-8).

Câu 3: Phân tích từng câu tục ngữ theo những nội dung sau:

*Phân tích câu 1: “Đêm tháng năm…tối”:

– Nghĩa của câu: tháng năm đêm ngắn, tháng mười ngày ngắn => tháng năm ngày dài, tháng mười đêm dài.

– Cơ sở thực tiễn: dựa trên quan sát, trải nghiệm thực tế.

-Áp dụng kinh nghiệm này để chú ý, phân bố thời gian biểu làm việc cho phù hợp.

*Phân tích câu 2: “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”:

– Nghĩa của câu: khi trời nhiều sao sẽ nắng, khi trời ít, vắng sao sẽ mưa.

– Kinh nghiệm để đoán mưa nắng, rất cần cho sản xuất nông nghiệp và mùa màng.

– Áp dụng kinh nghiệm này đoán trước thời tiết để sắp xếp công việc hợp lí.

*Phân  tích câu 3: “Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ”:

– Nghĩa của câu: khi có ráng mỡ gà thường sẽ có mưa bão lớn. Vì thế, phải chú ý chống bão.

– Câu tục ngữ nhắc nhở việc phòng chống bão.

*Phân tích câu 4: “Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt”:

– Nghĩa của câu: Vào tháng 7, nếu thấy kiến bò nhiều thì khả năng sẽ mưa lớn và lụt lội xảy ra.

– Cơ sở: kiến là một loài vật nhạy cảm nên khi sắp có mưa lụt, chúng thường di chuyển lên chỗ cao => chúng sẽ bò ra khỏi tổ.

– Câu tục ngữ được đúc kết từ quan sát thực tế, nó nhắc nhở về ý thức phòng chỗng bão lũ.

*Phân tích câu 5: “Tấc đất tấc vàng”:

– Nghĩa của câu: Đất được coi quý ngang vàng.

– Đất quý như vàng vì đất nuôi sống con người, tiềm năng của đất là vô hạn, khai thác mãi không bao giờ vơi cạn.

- Quảng cáo -

– Người ta sử dụng câu tục ngữ này để đề cao giá trị của đất, nhắc nhở việc tận dụng đất trong quá trình trồng trọt, phê phán việc lãng phí đất.

*Phân tích câu 6: “Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền”:

– Nghĩa của câu: câu này nói về giá trị kinh tế khi khai thác ao, vườn, ruộng. Nuôi cá có lợi nhất rồi đến làm vườn, làm ruộng. Người xưa đã tổng kết về giá trị kinh tế, cũng có thể kèm theo đó là độ khó của kĩ thuật.

– Áp dụng câu tục ngữ để kết hợp trồng trọt, chăn nuôi, khai thác tốt điều kiện tự nhiên, làm ra nhiều của cải vật chất.

*Phân tích câu 7: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”:

– Nghĩa của câu: Câu tục ngữ nói về vai trò của các yếu tố trong sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa nước của nhân dân ta.

– Nghề trồng lúa phải hội tụ bốn yếu tố, trong đó yếu tố nước là hàng đầu.

– Câu tục ngữ nhắc nhở người làm ruộng phải đầu tư vào tất cả các khâu, nhưng cũng phải chú ý ưu tiên, không tràn lan, nhất là khi khả năng đầu tư có hạn.

*Phân tích câu 8: “Nhất thì, nhì thục”

– Nghĩa của câu: Câu tục ngữ nêu vai trò của thời vụ là hàng đầu. Sau đó mới là yếu tố làm đất kĩ, cẩn thận. Thời vụ liên quan đến thời tiết, nắng mưa. Nếu sớm quá, muộn quá cây trồng sẽ bị ảnh hưởng và có khi không cho sản phẩm.

– Áp dụng câu tục ngữ để đảm bảo hai yếu tố: thời vụ và đất đai trong trồng trọt .

Câu 4: Đặc điểm hình thức của tục ngữ:

– Ngắn gọn: Mỗi câu tục ngữ chỉ có một số lượng từ không nhiều. Có câu rất ngắn: “Tấc đất, tấc vàng; Nhất thì, nhì thục”.

– Thường có vần, nhất là vần lưng: “Nhất thì, nhì thục”, “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”.

– Các vế đối xứng nhau cả về hình thức và nội dung.

“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

Ngày tháng mười chưa cười đã tối”.

II. LUYỆN TẬP:

Sưu tầm thêm một số câu tục ngữ có nội dung phản ánh kinh nghiệm của nhân dân ta về các hiện tượng mưa, nắng, bão, lụt:

– Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa.

– Mặt trời có quầng thì hạn, mặt trăng có tán thì mưa.

– Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân.

– Thâm đông, trống bắc, hễ nực thì mưa.