Trang Chủ Lớp 8 Đề thi học kì 2 lớp 8

Thi kì 2 trường THCS Tân Ước môn Ngữ Văn lớp 8: Em hãy chép chính xác khổ thơ chứa câu thơ trên và nêu nội dung chính của khổ thơ đó?

CHIA SẺ

Em hãy chép chính xác khổ thơ chứa câu thơ trên và nêu nội dung chính của khổ thơ đó?…trong đề kiểm tra cuối kì 2 môn Ngữ Văn lớp 8 trường THCS Tân Ước. Xem đề và đáp án tại đây

Phần 1(3 điểm) Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trong yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.”

(SGK Ngữ văn 8, tập 2, trang 49)

Đoạn văn trên trích trong văn bản nào? Của tác giả nào? Văn bản đó được viết theo thể loại gì? Nêu những hiểu biết của em về thể loại đó?

Khi kết thúc văn bản trên, tác giả đã viết: “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?” Em hãy xác định kiểu câu của hai câu văn trên (phân lọai theo mục đích nói) và cho biết cách kết thúc ấy có tác dụng như thế nào?

Nếu phải viết đoạn văn làm rõ luận điểm sau: “Đại La là thắng địa, xứng đáng là kinh đô của đế vương muôn đời.” em sẽ đưa ra hệ thống luận cứ nào?

Phần 2 (7 điểm) Trong bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ có câu thơ sau:

“Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”

Em hãy chép chính xác khổ thơ chứa câu thơ trên và nêu nội dung chính của khổ thơ đó?

Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về khổ thơ vừa chép. (đoạn văn T – P – H, từ 10 – 12 câu, sử dụng câu nghi vấn không dùng với chức năng chính, câu chứa thán từ.

Đáp án

Phần 1 (3 điểm)

Câu Hướng dẫn chấm Biểu điểm
1

– Đoạn văn trên trích trong văn bản: “Chiếu dời đô”.

– Tác giả: Lý Công Uẩn.

– Văn bản đó được viết theo thể loại chiếu.

– Những đặc điểm của thể loại chiếu:

Tác giả: vua.

Mục đích: ban bố mệnh lệnh.

Hình thức: viết bằng văn xuôi, văn biền ngẫu, văn vần.

0,25

0,25

0,25

0,75

2 – Kiểu câu: câu 1: câu trần thuật; câu 2: câu nghi vấn.

– Cách kết thúc bằng câu nghi vấn có tác dụng mang tính chất đối thoại, tạo ra sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua với quần thần.

0,25

0,25

3 – Hệ thống luận cứ:

Thành Đại La có thuận lợi về mặt lịch sử: là kinh đô cũ của Cao Vương.

Thành Đại La có thuận lợi về vị trí địa lí: ở vào nơi trung tâm trời đât, thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng ngôi nam bắc đông tây, tiện hướng nhìn sông dựa núi.

Thành Đại La có tiềm năng phát triển kinh tế: địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng, dân cư không phải chịu cảnh ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi.

1,0

Phần 2 (7 điểm)

Câu Hướng dẫn chấm Điểm
1 – Chép chính xác khổ thơ

– Nêu nội dung: Nỗi nhớ tiếc của con hổ về thời oanh liệt

0,5

0,5

2 Học sinh viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:

– Về hình thức

Viết đúng hình thức đoạn văn T- P- H, đủ số câu (có đánh số thứ tự câu)

Có sử dụng câu nghi vấn không dúng với chức năng để hỏi, câu chứa thán từ (gạch chân)

– Về nội dung: học sinh nêu được các ý cơ bản sau: khổ thơ đã khắc họa bức tranh tứ bình tuyệt đẹp qua đó nói lên tâm trang nhớ tiếc quá khứ của con hổ

Trước hết là nỗi nhớ khôn nguôi: nhớ suối, nhớ trăng, nhớ lúc say mồi, ung dung thỏa thích bên bờ suối. (chú ý phân tích nghệ thuật ẩn dụ “đêm vàng bên bờ suối”)

Nỗi nhớ ngẩn ngơ man mác về những ngày mưa rừng. (chú ý phân tích điệp từ “ta”)

Kỉ niệm thứ ba đầy màu sắc và âm thanh nhưng tất cả đã lùi sâu vào dĩ vãng. Điệp từ “đâu” với câu hỏi tu từ cất lên như một lời than nhớ tiếc, xót xa.

Nhớ đêm trăng, nhớ ngày mưa, nhớ bình minh, con hổ lại nhớ những chiều tà trong khoảnh khắc hoàng hôn chờ đợi. Bức tranh thứ tư là cảnh sắc của buổi chiều dữ dội.

Giấc mơ huy hoàng của con hổ khép lại trong tiếng than u uất “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu” đó cùng chính là tiếng thở dài của người dân Việt Nam mất nước khi đó.