Trang Chủ Lớp 5 Đề thi học kì 2 lớp 5 Đề thi học kì 2 môn Tiếng Việt 5: Bạn nhỏ...

[Đề 7] Đề thi học kì 2 môn Tiếng Việt 5: Bạn nhỏ đã tả chiếc bi đông bằng những chi tiết nào?

CHIA SẺ
Đề số 7 – Đề kiểm tra học kì 2 môn Tiếng Việt lớp 5: Hãy tưởng tượng để viết một đoạn văn tả chiếc bi đông trong câu chuyện.

I. ĐỌC HIỂU

CHIẾC BI ĐÔNG CỦA ÔNG TÔI

       Ông tôi có một cái bi đông đựng nước được dùng từ “ngày xửa ngày xưa”, tức là từ khi chưa có tôi. Dạo ấy ông đi bộ đội, hành quân dọc dãy núi Trường Sơn vào miền Nam đánh Mĩ. Ông bảo cái bi đông ấy đã từng theo ông như hình vói bóng : lúc xông ra trận, khi ở trong hầm, lại cả lúc xem văn công bộ đội biểu diễn nữa…

       Giờ thì cái bi đông ấy đã cũ lắm rồi. Nó to như quả dừa nhưng tròn dẹt, đựng được đến hơn một lít nước. Cái vỏ bằng nhôm cứng của nó được sơn màu xanh lá cây, nhiều chỗ đã móp mép, lộ ra màu bạc xỉn của nhôm. Cái nắp nhựa rất cứng có một sợi dây xích nhỏ buộc chặt vào cổ bi đông, ông bảo để nó khỏi rơi mất. Khi mời ai uống nước, cái nắp nhựa sẽ trở thành một cái cốc, rất tiện. Bao bọc bên ngoài “quả dừa dẹt” ấy là một cái giỏ đeo đan bằng những sợi dây dù, có quai dài đủ vắt qua vai. Những sợi dây cũng màu xanh lá cây, tuy đã sờn nhưng còn rất bền chắc. Những lúc ông treo cái bi đông trên tường, tôi cứ hình dung ra quả thị nằm trong cái túi lưới xinh xắn của chị Thắm. Chỉ khác là quả thị thì màu vàng…

       Có lần tôi hỏi ông :

       – Ông ơi, ông thích màu xanh lá cây lắm à ?

       Ông tôi mỉm cười :

       – Thích cháu ạ. Nhưng cái bi đông này phải sơn màu lá cây là để nó lẫn với màu quân phục, lẫn với lá rừng, che mắt thằng giặc !

       Lại có lần được ông đèo đi chơi xa, lúc hai ông cháu trú nắng bên đường, tôi mân mê cái bi đông và chợt phát hiện bên sườn nó có một lỗ thủng bằng hạt ngô đã được hàn rất khéo. Tôi chưa kịp hỏi thì ông đã giải thích :

       – Cái bi đông này đã cứu ông khỏi bị thương đấy. Trong một trận chiến đấu, một mảnh đạn văng vào người ông, may quá nó lại găm đúng vào cái bi đông ông đeo bên người. Ông không việc gì, nhưng nó thì “bị thương”.

       Ồ thế mà mãi bây giờ ông mới kể ! Nhưng cũng từ đấy, tôi đã hiểu vì sao ông tôi lại nâng niu cái bi đông cũ đến thế. Ông nghỉ hưu đã lâu, nhưng ông vẫn dùng nó để đựng nước uống mỗi khi ra đồng hoặc lúc có việc đi xa. Về nhà ông lại treo ngay ngắn ở đầu giường, như chị Thắm vẫn thích thú treo quả thị hay trái ổi trước bàn học…

(Hồ Thị Mai Quang)

Khoanh tròn chữ cái trước câu trả lời đúng :

1.Bạn nhỏ đã tả chiếc bi đông bằng những chi tiết nào ?

a. Nó to như quả dừa nhưng tròn dẹt.

b. Vỏ bằng nhôm cứng sơn màu xanh lá cây.

c. Nó được đeo vào người bằng một sợi dây vàng.

d. Cái nắp nhựa có một sợi dây xích nhỏ buộc vào cổ bi đông.

2.Bạn nhỏ trong bài đã so sánh chiếc bi đông của ông mình với vật gì ?

a. Quả dừa.

b. Quả thị.

c. Cả hai ý trên.

3.Vì sao ông bạn nhỏ lại nâng niu cái bi đông cũ đến thế ?

a. Vì cái bi đông này rất quý không thể tìm mua ở đâu được.

b. Vì cái bi đông này rất tiện lợi, giúp ông đi đâu xa khỏi khát nước.

c. Vì đó là vật kỉ niệm gắn bó thân thiết với những ngày chiến đấu của ông.

4.Câu chuyện muốn nói với em điều gì ?

a. Cần trân trọng những đồ vật gắn bó với những kỉ niệm thân thương của mình.

b. Cần giữ gìn cẩn thận những đồ vật cũ.

c. Những đồ vật tưởng chừng đơn sơ, giản dị nhưng rất tiện ích.

II. LUYỆN TỪ VÀ CÂU

1.Đặt 2 câu có từ sơn, trong đó một câu có từ sơn là danh từ, một câu có từ sơn là động từ.

2.Dấu hai chấm trong câu sau có tác dụng gì ?                                              ‘

      Ông bảo cái bi đông ấy đã từng theo ông như hình với bóng : lúc xông ra trận, khi ở trong hầm, lại cả lúc xem văn công bộ đội biểu diễn nữa…

3.Dấu ngoặc kép trong câu sau có tác dụng gì ?

      Ông không việc gì, nhưng nó thì “bị thương”.

4.Câu “Chỉ khác là quả thị màu vàng.” thuộc kiểu câu Ai là gì ? hay Ai thế nào ?

5.Tìm cặp từ hô ứng điền vào chỗ trống cho thích hợp :

a) Trong những ngày chiến đấu, ông đi đến… thì chiếc bi đông cũng theo ông đến…

b) … biết nhiều chuyện về chiếc bi đông tôi… quý nó.

c) Chị Thắm thích thú với mấy quả thị… thì ông lại gắn bó với chiếc bi đông…

III. CẢM THỤ VĂN HỌC

      Nhờ chiếc bi đông mà bạn nhỏ trong câu chuyện hiểu thêm được những gì về người ông của mình ? Đặt mình vào vai bạn ấy để viết đoạn văn kể về điều đó.

IV. TẬP LÀM VĂN

1.Hãy tưởng tượng để viết một đoạn văn tả chiếc bi đông trong câu chuyện.

2.Hãy viết một đoạn văn tả một đồ vật gắn bó thân thiết với em.


I. ĐỌC HIỂU

Cây 1: Con đọc kĩ đoạn văn thứ 2.

Câu 2: Con đọc đoạn văn thứ 2.

Câu 3: Con đọc phần giữa câu chuyện.

Câu 4: Từ chuyện ông bạn nhỏ trân trọng, gìn giữ chiếc bi đông đã cũ cho con suy nghĩ gì?

Câu 1 – a, b, d

Câu 2 – a

Câu 3 – c

Câu 4 – a

II. LUYỆN TỪ VÀ CÂU

1.

- Quảng cáo -

– Danh từ là những từ chỉ tên gọi của người, sự vật.

– Động từ là những từ chỉ hoạt động của người, sự vật.

2 câu có từ sơn, trong đó một câu có từ sơn là danh từ, một câu có từ sơn là động từ.

– Giờ cái bi đông đã cũ rồi, màu sơn đã bạc.

– Cái vỏ của nó được sơn màu xanh lá cây.

2.. 

Tác dụng của dấu hai chấm trong câu:

– Báo hiệu bộ phận câu đứng sau đó là lời nói của nhân vật.

– Báo hiệu lời giải thích cho bộ phận đứng trước.

Câu “Ông bảo cái bi đông ấy đã từng theo ông như hình với bóng : lúc xông ra trận, khi ở trong hầm, lại cả lúc xem văn công bộ đội biểu diễn nữa…”

Dấu hai chấm có tác dụng báo hiệu lời giải thích.

3.

Tác dụng của dấu ngoặc kép:

– Dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật hoặc của người nào đó.

– Đánh dấu những từ ngữ dược dùng với ý nghĩa đặc biệt.

Câu Ông không việc gì, nhưng nó thì “bị thương”.

Dấu ngoặc kép ở đây đánh dấu một từ được dùng theo nghĩa đặc biệt.

4.. 

Con phân tích câu rồi trả lời.

Câu “Chỉ khác là quả thị màu vàng.” thuộc kiểu câu Ai thế nào ?

5.

Tác dụng của dấu ngoặc kép:

– Dẫn lơi nói trực tiếp của nhân vật hoặc của người nào đó.

– Đánh dấu những từ ngữ được dùng với ý nghĩa đặc biệt

a) Trong những ngày chiến đấu, ông đi đến đâu thì chiếc bi đông cũng theo ông đến đó.

b) Càng biết nhiều chuyện về chiếc bi đông tôi càng quý nó.

c) Chị Thắm thích thú với mấy quả thị bao nhiêu thì ông lại gắn bó với chiếc bi đông bấy nhiêu

III. CẢM THỤ VĂN HỌC

Con đọc lại chuyện để nắm chắc nội dung và kể lại.

        Trước đây khi thấy ông nâng niu chiếc bi đông, tôi thường thầm nghĩ : “Chiếc bi đông cũ rích, móp méo vứt đi được rồi, sao mà ông tiết kiệm thế, cứ dùng mãi và lại còn nâng niu cẩn thận nữa chứ”. Thế rồi tôi được nghe ông kể về nó. Ôi ! Chiếc bi đông cũ kĩ nhưng quý giá biết chừng nào. Nó đã theo ông trong suốt những năm kháng chiến chống Mĩ. Nó như một người bạn thân thiết gắn bó với ông, chia sẻ niềm vui nỗi buồn cùng ông. Nó lại như một người bạn dũng cảm, trung thành, sẵn sàng đứng ra hứng đạn để bảo vệ ông, để rồi nó thì “bị thương” còn ông lại may mắn thoát chết. Tôi thấy thật trân trọng nó và tôi cũng thấy thật khâm phục và tự hào về ông tôi – một người lính đã vượt qua bao khó khăn gian khổ để chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho đất nước.

(Trịnh Thị Xuân)

IV. TẬP LÀM VĂN

Đề 1

– Viết thành đoạn văn có mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.

– Mở đoạn: Giới thiệu về chiếc bi đông

– Thân đoạn: Tả chiếc bi đông từ bao quát tới chi tiết. Chú ý tả chi tiết đặc biệt của chiếc bi đông như màu sắc, “bị thương” gắn với những kỉ niệm của ông.

– Kết bài: Cảm nghĩ về chiếc bi đông

         Chiếc bi đông “Trường Sơn” của ông được gia đình tôi nâng niu như một vật báu. Nó to chừng bằng quả bòng, mình nó hơi dẹt. Nó làm bằng nhôm, bên ngoài tráng một lớp men màu xanh giống như màu xanh của áo bộ đội, màu xanh của lá cây rừng Trường Sơn để giặc Mĩ khó phát hiện. Bên trong bi đông là lớp nhôm trắng ngà, nó chứa được hơn một lít nước. Mình nó đã bị móp méo, lấm chấm lỗ, rõ màu trắng bạc. Sườn nó có một lỗ thủng bằng hạt ngô đã được ông hàn rất khéo, nhìn kĩ mới phát hiện ra. Đó là vì trong một trận chiến đấu ác liệt, bi đông đã hứng đạn cho ông nên nó “bị thương”. Cái “áo” của bi đông được đan bằng những sợi dây dù có quai dài đủ vắt qua vai, đến nay “áo” đã sờn nhưng còn rất chắc. Ông thường treo bi đông ở chỗ cuối giường nằm của ông cháu tôi. Bi đông đúng là một người bạn, người đồng chí của ông, tiếp thêm sức mạnh cho ông chiến đấu chống kẻ thù.

(Trần Thị Liên)

Đề 2

Viết thành đoạn văn có mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn theo cấu trúc như sau:

– Mở đoạn: Giới thiệu chung về đồ vật.

– Thân đoạn: Tả bao quát và chi tiết từng bộ phận của đồ vật.

– Kết đoạn: Cảm nghĩ về đồ vật

            Chiếc đồng hồ treo tường nhà em do bố em mua cách đây ba năm, trong dịp bố đi công tác ở Hà Nội. Đồng hồ hình tròn, bán kính khoảng 15 cm. Mặt đồng hồ làm bằng nhựa trong, sáng bóng, nổi rõ chữ GIMIKO – tên hãng sản xuất đồng hồ. Xung quanh đồng hồ được trang trí đường viền phát dạ quang sáng xanh. Đồng hồ được ghi mười hai số từ số 1 đến số 12 đều đặn. Ở chính giữa mặt đồng hồ có gắn một trục nối ba kim giờ, phút, giây. Kim dài chỉ phút, kim ngắn chỉ giờ và kim thanh mảnh màu đỏ chỉ giây. Cứ đến đúng giờ, nó lại phát ra một bản nhạc nghe thật vui tai. Thế mà nó chẳng đòi hỏi gì, sau sáu tháng bố mới thay bốn quả pin và tra dầu vào phần máy phía sau mặt đồng hồ. Đồng hồ chăm chỉ “tích tắc, tích tắc”, làm việc suốt ngày đêm không ngừng không nghỉ, nhắc nhở em học tập nghỉ ngơi có khoa học và phải biết quý trọng thời gian.

(Nguyễn Thị Mến)