Trang Chủ Lớp 4 Đề thi học kì 2 lớp 4

Trường Tiểu học Cẩm Vũ thi học kì 2 môn Tiếng Việt lớp 4 có đáp án 2017

CHIA SẺ

Đề thi học kì 2 môn Tiếng Việt lớp 4 trường Tiểu học Cẩm Vũ năm 2017: Em hãy tả một con vật nuôi mà em yêu quý.

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng.

* Mục tiêu: Nhằm kiểm tra kĩ năng đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra kĩ năng nghe nói (học sinh trả lời 1 câu hỏi về nội dung đoạn, bài đọc).

* Nội dung kiểm tra:

– HS đọc một đoạn văn trong các bài tập đọc đã học ở SGK Tiếng Việt lớp 4 hoặc một đoạn văn không có trong SGK (do GV lựa chọn và chuẩn bị trước, ghi rõ tên bài, đoạn đọc và số trang vào phiếu cho từng học sinh bốc thăm rồi đọc thành tiếng).

– HS trả lời 1 câu hỏi về nội dung đoạn đọc do giáo viên nêu ra.

* Thời gian kiểm tra: GV kết hợp kiểm tra đọc thành tiếng đối với từng HS qua các tiết Ôn tập ở cuối học kì.

II. Đọc thầm và làm bài tập. (Thời gian làm bài 35 phút)

*Đọc thầm bài văn: Chiều ngoại ô

Chiều hè ở ngoại ô thật mát mẻ và cũng thật là yên tĩnh. Khi những tia nắng cuối cùng nhạt dần cũng là khi gió bắt đầu lộng lên. Không khí dịu lại rất nhanh và chỉ một lát, ngoại ô đã chìm vào nắng chiều.

Những buổi chiều hè êm dịu, tôi thường cùng lũ bạn đi dạo dọc con kênh nước trong vắt. Hai bên bờ kênh, dải cỏ xanh êm như tấm thảm trải ra đón bước chân người. Qua căn nhà cuối phố là những ruộng rau muống. Mùa hè, rau muống lên xanh mơn mởn, hoa rau muống tím lấp lánh. Rồi những rặng tre xanh đang thì thầm trong gió. Đằng sau lưng là phố xá, trước mặt là đồng lúa chín mênh mông và cả một khoảng trời bao la, những đám mây trắng vui đùa đuổi nhau trên cao. Con chim sơn ca cất tiếng hót tự do, thiết tha đến nỗi khiến người ta phải ao ước giá mình có một đôi cánh. Trải khắp cánh đồng là ráng chiều vàng dịu và thơm hơi đất, là gió đưa thoang thoảng hương lúa chín và hương sen. Vẻ đẹp bình dị của buổi chiều hè vùng ngoại ô thật đáng yêu.

Nhưng có lẽ thú vị nhất trong chiều hè ngoại ô là được thả diều cùng lũ bạn. Khoảng không gian vắng lặng nơi bãi cỏ gần nhà tự nhiên chen chúc những cánh diều. Diều cốc, diều tu, diều sáo đua nhau bay lên cao. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Những cánh diều mềm mại như cánh bướm. Những cánh diều như những mảnh hồn ấu thơ bay lên với biết bao khát vọng. Ngồi bên nơi cắm diều, lòng tôi lâng lâng, tôi muốn gửi ước mơ của mình theo những cánh diều lên tận mây xanh.

Theo NGUYỄN THỤY KHA

* Dựa vào nội dung bài đọc, hãy khoanh tròn vào chữ cái đặt trước ý trả lời đúng nhất và hoàn thành tiếp các bài tập:

Câu 1 (0,5 điểm) Cảnh buổi chiều hè ở ngoại ô như thế nào? (M1)

A. Cảnh buổi chiều ở vùng ngoại ô rất đẹp, hấp dẫn.
B. Cảnh buổi chiều hè ở vùng ngoại ô thật mát mẻ và cũng thật yên tĩnh.
C. Cảnh buổi chiều ở vùng ngoại ô rất ồn ào, náo nhiệt.

Câu 2 (0,5điểm) Từ cùng nghĩa với từ “bao la” là: (M1)

A. Bát ngát                B. Cao vút                C. Thăm thẳm                D. Mát mẻ

Câu 3 (0,5 điểm) Câu văn nào trong bài tả vẻ đẹp của ruộng rau muống? (M2)

A. Hai bên bờ kênh, dải cỏ xanh êm như tấm thảm trải ra đón bước chân người.
B. Qua căn nhà cuối phố là những ruộng rau muống.
C. Mùa hè, rau muống lên xanh mơn mởn, hoa rau muống tím lấp lánh.

Câu 4 (0,5 điểm) Điều gì làm tác giả cảm thấy thú vị nhất trong những buổi chiều hè ở vùng ngoại ô? (M2)

A. Ngắm cảnh đồng quê thanh bình.
B. Ngắm cảnh đồng quê và thả diều cùng lũ bạn.
C. Được hít thở bầu không khí trong lành.

Câu 5 (0,5 điểm): Câu “Những cánh diều mềm mại như cánh bướm.” thuộc mẫu câu nào? (M2)

A. Ai làm gì?              B. Ai là gì?              C. Ai thế nào?

Câu 6 (0,5 điểm) Dòng nào dưới đây chỉ gồm các từ láy? (M3)

A. Mát mẻ, mơn mởn, lấp lánh, thì thầm, mênh mông.
B. Thiết tha, ao ước, thoang thoảng, vắng lặng, chen chúc.
C. Vi vu, trầm bổng, phố xá, mềm mại, lâng lâng.

Câu 7 (1 điểm) Thêm trạng ngữ cho câu sau: (M3)

…………………………., dải cỏ xanh êm như tấm thảm trải ra đón bước chân người.

Câu 8 (1 điểm) Viết lại chủ ngữ, vị ngữ trong câu sau (M3)

Chiều hè ở ngoại ô thật mát mẻ và cũng thật là yên tĩnh.

Chủ ngữ:……………………….    Vị ngữ:…………………………………………………..

Câu 9 (1 điểm) Gạch 1 gạch dưới hình ảnh nhân hóa trong câu sau? (M4)

Đằng sau lưng là phố xá, trước mặt là đồng lúa chín mênh mông và cả một khoảng trời bao la, những đám mây trắng vui đùa đuổi nhau trên cao.

Câu 10 (1 điểm) Viết 1 câu có ít nhất 2 danh từ: (M4)

B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT

I. Chính tả (Nghe – viết) (2 điểm) (Thời gian 15 phút)

Đường đi Sa Pa

Xe chúng tôi leo chênh vênh trên dốc cao của con đường xuyên tỉnh. Những đám mây trắng nhỏ sà xuống cửa kính ô tô tạo nên cảm giác bồng bềnh huyền ảo. Chúng tôi đang đi bên những thác trắng xóa tựa mây trời, những rừng cây âm âm, những bông hoa chuối rực lên như ngọn lửa. Tôi lim dim mắt ngắm mấy con ngựa đang ăn cỏ trong một vườn đào ven đường. Con đen huyền, con trắng tuyết, con đỏ son, chân dịu dàng, chùm đuôi cong lướt thướt liễu rủ.

Trích: Đường đi Sa Pa (TV4 – Tập II – trang 102)

II. Tập làm văn (8 điểm): (Thời gian 30 phút)

Đề bài: Em hãy tả một con vật nuôi mà em yêu quý.


Đáp án và hướng dẫn làm bài thi môn tiếng việt lớp 5

A. Kiểm tra đọc

I. Đọc thành tiếng

* Cách đánh giá, cho điểm: Giáo viên đánh giá, cho điểm đọc thành tiếng dựa vào những yêu cầu sau:

– Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng; tốc độ đọc đạt yêu cầu, giọng đọc có biểu cảm: 1 điểm.

– Ngắt nghỉ hơi ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa; đọc đúng tiếng, từ (không đọc sai quá 5 tiếng): 1 điểm.

– Trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn đọc: 1 điểm

(HS trả lời chưa đầy đủ hoặc diễn đạt chưa rõ ràng: 0,5 điểm; trả lời sai hoặc không trả lời được không tính điểm)

* Lưu ý: Đối với những bài tập đọc thuộc thể thơ có yêu cầu học thuộc lòng, giáo viên cho học sinh đọc thuộc lòng theo yêu cầu.

II. Đọc thầm và làm bài tập. (7 điểm)

Học sinh dựa vào nội dung bài đọc, chọn câu trả lời đúng và hoàn thành các bài tập đạt số điểm như sau:

 Câu 

 1

 2

 3

 4

 5

 6

Đáp án đúng

 B

 A

 C

 B

 C

 A

 Điểm

 0,5

 0,5

 0,5

 0,5

 0,5

 0,5

Câu 7 (1 điểm)

Hai bên bờ kênh, dải cỏ xanh êm như tấm thảm trải ra đón bước chân người.

Câu 8 (1 điểm) Chủ ngữ: ở ngoại ô

Vị ngữ: thật mát mẻ và cũng thật là yên tĩnh.

Câu 9 (1 điểm):

Hình ảnh nhân hóa: đám mây trắng vui đùa đuổi nhau trên cao.

Câu 10 (1 điểm)

Mùa hè, rau muống lên xanh mơn mởn, hoa rau muống tím lấp lánh.

B. Kiểm tra viết

I. Chính tả (2 điểm, thời gian 15 phút)

GV đọc cho học sinh viết đoạn: “Xe chúng tôi … liễu rủ” trong bài: Đường đi Sa Pa (TV4 – Tập II – Trang 102)

* Cách đánh giá, cho điểm:

– Tốc độ đạt yêu cầu; chữ viết rõ ràng, viết đúng kiểu chữ, cỡ chữ; trình bày đúng quy định, viết sạch đẹp: 1 điểm

– Viết đúng chính tả (không mắc quá 5 lỗi): 1 điểm

– Mỗi lỗi chính tả trong bài viết (sai lẫn lộn phụ âm đầu hoặc vần, thanh; chữ thường, chữ hoa): trừ 0,2 điểm.

– Nếu chữ viết không rõ ràng, sai về độ cao, khoảng cách, kiểu chữ hoặc trình bày dơ bẩn trừ 0,2 điểm.

II. Tập làm văn (8 điểm): 30 phút

Tả một con vật nuôi mà em yêu thích.

Bài làm 1 – Tả con mèo

“Chích! Chích!”. Thế là con chuột nhắt ăn hại đã bị chị mướp nhà ta vồ gọn trong tay.

Chị mướp có cái đuôi tròn vo như trái bóng con, đôi tai bẹt luôn dựng đứng. Đôi mắt xanh của chị long lanh như hai viên bi thủy tinh. Bộ ria mép dài nhỏ như những sợi tóc thỉnh thoảng lại động đậy. Cái mũi nhỏ lúc nào cũng ươn ướt mà lại rất tài đánh hơi đấy nhé. Mùi thơm của thịt cá khó mà lọt qua được cái mũi ấy của chị. Cái cổ ngắn của chị được nối với cái thân hình dài thon được bao phủ bởi một lớp lông mịn màng óng mượt. Bốn cái chân nhỏ mà ngắn. Dưới bàn chân có nệm thịt êm như mút giúp cho bước đi của chị uyển chuyển nhẹ nhàng không gây tiếng động. Toàn thân chị là một chiếc áo màu tàn thuốc có sọc sậm. Những lúc rỗi rãi, chị thường liếm láp cho bộ lông của mình luôn óng ả. Cái đuôi thì dài và mềm luôn ngoe nguẩy, trông ngộ nghĩnh lắm.

Chị có tài bắt chuột. Con chuột nào mà đã lọt vào tầm ngắm của chị thì khó mà thoát thân. Chị nấp vào chỗ kín, nằm im thin thít. Chú chuột nào chủ quan nghênh ngang đi lại thì bị chị vồ ngay không kịp trở tay. Chính những cái vuốt sắc ngọt và rất bén ấy mà lũ chuột phải kinh hoàng bạt vía mỗi khi thấy chị.

Chị Mướp xứng đáng là nhà “vô địch” diệt chuột. Có chị trong nhà lũ chuột không dám hoành hành nữa.


Bài làm 2 – Tả con chó

Từ trước tới giờ, gia đình em nuôi cũng khá nhiều chú chó. Nhưng Vàng là một chú chó khôn ngoan và hiền lành hơn cả. Nó sống với gia đình em đến nay đã gần hai năm.

Vàng có một thân hình to cao lực lưỡng, nặng chừng mười ba, mười bốn ký. Toàn thân là một màu vàng sậm, mượt như tơ. Có lẽ vậy nên mới đặt tên cho cậu là Vàng. Đầu chú to như cái yên xe đạp Mini, hai cái tai dựng đứng. Nó có thể phát hiện được tiếng chân người lạ người quen từ tít đằng xa. Đôi mắt to tròn màu nâu sẫm. Cái mũi thì lúc nào cũng ướt ướt như được bối mỡ. Mấy sợi ria mép ngắn ngắn cùng với mấy cái râu khôn ở dưới cằm đen cứng tạo cho chú một bộ mặt hiền từ dễ mến. Mõm chú to, rộng mỗi khi ngáp để lộ hàm răng trắng với mấy cái răng nanh ở hai bên khóe miệng, trông đến rợn người. Và cái lưỡi thì màu hồng nhạt có sọc đen, thè ra ngoài mỗi khi trời nắng gắt.

Vàng rất khôn ngoan, chú hiểu được ý chủ. Bố bảo nằm thì nó nằm, bảo ngồi dậy thì chú chống chân trước lên, ngọ nguậy cái đầu, còn cái đuôi thì ngoắt qua ngoắt lại như một cái chổi bông. Khách đến nhà chú đều phân biệt được khách lạ, khách quen. Người lạ, chú đứng ngáng ở cổng, nhe hai hàm rầng hù dọa. Còn khách quen thì vẫy đuôi rối rít chào mời. Đặc biệt, mỗi lúc em đi học về, vừa mới về tới cổng đã thấy chú từ bậc cửa phóng ra, cái đuôi dài ngoắt lia lịa, miệng phát ra những tiếng kêu ư ử, ánh mắt vui mừng nhìn em không chớp. Rồi chú cọ cọ cái mõm ướt vào đùi em, tay em, hai chân trước co lên cào cào trên không. Những lúc như thế, em chỉ biết xoa xoa vào đầu nó và cầm chân trước rung rung vài cái khẽ nói: “Cám ơn Vàng! Vàng ngoan lắm! Nào, ta vào nhà đi!”. Nó lon ton chạy theo em từ ngõ vào đến nhà mới quay trở lại bậc cửa nằm trông nhà.

Vàng khôn ngoan lanh lợi, cả nhà em ai cũng quý nó. Coi nó như một thành viên của gia đình.

CHIA SẺ